Tản mạn về món ăn

Trong từ điển tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội, 1967) có mục từ Ăn Chơi với nghĩa xấu là chơi bời, lêu lổng. Tôi không dám lạm bàn về cách giải nghĩa đó, mà chỉ băn khoăn một điều: tại sao người xưa lại ghép hai từ này với nhau như vậy. Nếu đứng riêng ra lại có nghĩa khác. Ăn hàm nhiều nghĩa về vật chất hơn. Còn chơi hàm nhiều về tinh thần hơn. Nhưng ngẫm nghĩ kỹ thì cả hai cũng đều có thể mang tính văn hóa cao độ. Hà nội nói riêng và dân chúng Việt Nam nói chung vốn thanh lịch văn hiến. Có bao nhiêu cách ăn và cũng có bao nhiêu cách chơi. Qua hàng ngàn năm phải đấu tranh để tồn tại, nhiều cách ăn và cách chơi đó vẫn được duy trì. Song, cũng đáng tiếc chỉ mới gần đây thôi, dăm thập kỷ trở lại , nhiều cách ăn chơi đó đã bị rẻ rúng, khinh thị, nên dần mai một, làm trống đi một mảng văn hóa dân tộc. Tiếc.

Hãy nói về ĂN. Đúng là “có thực mới vực được đạo” như người xưa nói. Nhưng không phải ăn chỉ là chém to kho mặn, dùi đục (hay bồ dục), chấm mắm cáy… mà ăn phải được nâng lên hàng một nghệ thuật – đương nhiên là trong hoàn cảnh điều kiện cho phép – không kể những sơn hào hải vị, những thai báo, tay gấu, những bữa tiệc linh đình gồm toàn thức ăn quý hiếm, chỉ nói đến mấy món ăn dân dã và một vài cách ăn của dân ta.

Một Nguyễn Tuân cầu kỳ, giữa khách sạn sang trọng đồ pha lê, đồ nhôm: đồ nhựa máy móc tân kỳ sáng loáng, lại đòi ăn cá bống khô kho với hạt tiêu, kho bằng niêu đất, để niêu lên mâm, không cần gắp ra đĩa, hoặc ăn giò lụa lưỡi mèo, cầm tay từng chiếc mà ăn trong quán rượu khuất sau ở ngõ 107 phố Huế

Một Thạch Lam tinh tế biết thưởng thức cái tinh chất của từng món quà Hà Nội, từ một bát nước chè xanh, gọi hương thơm cà cuống là “như thoảng một nỗi nghi ngờ”, trong khi Vũ Bằng gọ là cuống là con rận rồng, quả là giỏi…

Ngược lên, ngược lên xa xưa, hẳn là Hầu tước Ôn Như Nguyễn Gia Thiều, con một quận chúa ấy, thiếu gì cao lương mỹ vị, thế mà vẫn chú ý đến khóm gừng, cây tỏi, xót thương cho chung ngả nghiêng trong cuồng phong, giông bão.

Gần hơn nhiều, một Tản Đà khó tính, chơi ngông, nhưng ông cũng nổi tiếng là người biết ăn biết chơi trong cuộc sống thường nhật và trong những câu nhàn đàm của nhà thơ còn để lại. Nhà thơ Quang Dũng, lúc còn sống hay kể lại giai thoại về Tản Đà rằng: Có mội người bạn rủ Tản Đà đi chơi. Đến một nhà nọ, chủ nhà quý mến làm cơm thiết đãi. Cơm lẽ dĩ nhiên có thịt gà. Nhưng từ đầu bữa đến giữa bữa, Tản Đà chỉ nhắm rượu với mấy nhánh rau thươm mà không hề đụng đũa đến món thịt gà béo vàng, chạt to, vuông vức. Người bạn đi cùng như sực nhớ ra bèn rỉ tai chủ nhà: “lá chanh, lá chanh”. Gia chủ vội sai con sang nhà hàng xóm xin mấy cái lá chanh, cái quá già cái quá non, rửa qua quít rồi để lên mâm. Cả một hồi lâu, Tản Đà vẫn không đụng đến món thịt gà ấy dù gia chủ đã tiếp, nhưng ngay miếng thịt gà trogn bát ông, ông cũng coi nhưng không có. Người bạn đi cùng như tỉnh hẳn rượu, lại một lần nữa rỉ tai gia chủ: “thái chỉ, thái chỉ, mà lá bánh tẻ ấy” Quả là sau khi có những sợi lá chanh xanh óng, nhỏ như sợi tóc rắc lên đĩa thịt gà vàng rộm. Tản Đà mới nháy mắt vứi bạn, cười và ăn.

Khen cho ông bạn đi cùng Tản Đà đã biết ý, đã hiểu ông thi sĩ ngông này, và cũng khen cho chủ nhà, không hề nề hà cái khó tính của khách, sẵn sàng chiều theo ý.

Có người còn thuộc câu ca dao cổ một cách hóm hỉnh:

Thịt gà cơm nếp đàn bà…

Cả ba thứ ấy đều là dùng tay.

                                                                                                                                -Vũ Bằng-

Loading Facebook Comments ...