Căn Bệnh đau lưng Bạn đừng Có Coi Thường

Nghi thức đón học sinh đầu cấp tại một Lễ Khai giảng của trường THCS Tân Phú, thị xã Đồng XoàiDo mắc các bệnh đái tháo đường, cao mỡ máu, xơ vữa động mạch, béo phì, thiếu vitamin, canxi và dưỡng chất gây rối loạn cơ thể dẫn đến tê nhức. Do mắc các bệnh lý đa dây thần kinh do tiểu đường, nghiện rượu; các bệnh lý nội khoa như nhiễm trùng hoặc nhiễm siêu vi, tổn thương thần kinh do thuốc, các bệnh lý về gan và thận. Triệu chứng phổ biến nhất của bệnh tê nhức chân tay đó là người bệnh bị tê nhẹ ở các đầu ngón tay, thỉnh thoảng bị tê buốt và có thể bị chuột rút. Bệnh càng nặng thì mức độ tê buốt càng tăng. Cơn đau nhức có thể lan truyền sang cánh tay, cẳng tay, khắp vùng chân và mông, thắt lưng. Ngoài ra biểu hiện của bệnh tê nhức chân tay còn được thể hiên ở việc các khớp khô và cứng, khó vận động vào buổi sáng đặc biệt đối với các khớp ngón tay, ngón chân, đau lưng.

Thường phải vận động khoảng 25 – 30 phút thì các khớp mới linh động trở lại trạng thái bình thường. Tập các động tác liên quan đến xương, khớp như bóp và mát xa các khớp tay, khớp chân; xoay đều các khớp ngón tay, ngón chân, khớp đầu gối; xoay đều hai khớp vai. Tất cả các động tác trên nên thực hiện đều hai bên trái phải và duy trì hằng ngày mới đảm bảo tính hiệu quả cao nhất. Các bài tập về xương, khớp sẽ giúp cho quá trình lưu thông máu tới tứ chi được dễ dàng hơn, các cơ linh hoạt mềm mại hơn, từ đó giúp cải thiện chứng đau nhức, tê mỏi chân tay. Ngoài ra, bài tập còn khiến cơ thể cũng trở nên thư giãn. Kết hợp dùng các bài thuốc y học cổ truyền được tinh chế từ các loại thảo dược quý giúp khu phong, tán hàn, trừ thấp, thông kinh mạch, hoạt huyết, giảm các cơn tê, đau. Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý, tránh ngồi một tư thế quá lâu. Thường xuyên đi bộ và tham gia các khóa học yoga để tinh thần thư giãn, khớp xương được vận động linh hoạt giúp hạn chế các bệnh về xương khớp, tê nhức chân tay.

Thoát vị đĩa đệm L5 – S1 sẽ gây chèn ép vào rễ S1, bệnh nhân sẽ thấy tê bì, giảm cảm giác các vùng này. Rễ S1 phụ trách vận động cơ dép (mặt sau cẳng chân) nên bệnh nhân khó gấp bàn chân về phía gan chân, khó đứng bằng mũi chân. Phản xạ gân gót bị giảm hoặc mất. Đây là nguyên nhân thường gặp nhất của đau thắt lưng. Nhưng thật may mắn, đau thắt lưng do nguyên nhân này là không đáng lo ngại. Đau xảy ra sau các động tác sai tư thế, do các cử động đột ngột trong sinh hoạt, lao động. Đây là nguyên nhân thường gặp thứ hai, thường thấy ở người trên 40 tuổi, tuổi càng cao càng hay gặp. Đau thắt lưng do thoái hóa đĩa đệm thường là đau mạn tính, hay tái phát, đau thắt lưng đơn thuần hoặc có kèm theo hội chứng rễ (đau lan xuống mông và chân). Đau thường âm ỉ, tức mỏi ở vùng thắt lưng. Đau có tính chất cơ học rõ: đau tăng lên khi vận động, nằm nghỉ thì giảm hoặc hết đau.

Mất đường cong sinh lý của cột sống thắt lưng, cột sống thắt lưng trở nên thẳng hoặc vẹo sang bên mà không cong ưỡn về trước như bình thường. Xương dưới mâm sụn của đốt sống tăng cản quang (dấu hiệu dày đậm xương dưới mâm sụn). Khe gian đốt sống thắt lưng hẹp lại (khe gian đốt sống nhỏ hơn 1/3 chiều cao thân đốt sống kế cận). Hình 1: Thoái hóa cột sống với gai xương thân đốt sống. Có yếu tố chấn thương (chấn thương mạnh hoặc vi chấn thương do nghề nghiệp). Đau cột sống thắt lưng lan xuống mông và chân. Đau có tính chất cơ học (đau tăng lên khi vận động, giảm khi nghỉ ngơi). Lệch vẹo cột sống, co cứng cơ cạnh cột sống. Dấu hiệu bấm chuông dương tính: ấn cạnh cột sống đau lan xuống mông và chân. Dấu hiệu Lasègue dương tính: nằm ngửa, chân không đau duỗi, chân đau co để đùi vuông góc với mặt giường, cẳng chân vuông góc với đùi. Hình 2. Phim chụp MRI cột sống thắt lưng cho thấy thoát vị đĩa đệm L4-L5.

https://thoaihoacotsong.vn/benh-ve-xuong-khop-khac/dau-hieu-dau-vai-gay/

Loading Facebook Comments ...